Bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc”

Tác giả: Phan Tường Duy

Công đoàn viên Phòng Đào tạo và Quan hệ doanh nghiệp.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng một quốc gia, một dân tộc muốn phát triển không ngừng và lớn mạnh thì phải phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, mà muốn phát huy được sức mạnh đó thì cần phải tạo được một khối đoàn kết thống nhất thì mới xây dựng được một đất nước, một xã hội phồn thịnh. Điều đó được thể hiện rõ ở những triết lý tư tưởng nho giáo Phương Đông như Khổng Tử hay tư tưởng tiến bộ “lấy dân làm gốc” của Mạnh Tử. Còn ở Việt Nam ngoài những ảnh hưởng tư tưởng nho giáo Phương Đông, còn có triết lý tư tưởng tiến bộ như “tướng với quân như cha với con” của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã thể hiện sức mạnh đoàn kết của dân tộc mà cụ thể là cuộc kháng chiến thắng lợi oai hùng trước đế chế Nguyên – Mông. Kế thừa những tinh hoa văn hóa tiến bộ của nhân loại và nền văn hóa truyền thống của Việt Nam chủ tịch Hồ Chí minh đã phát triển thành một hệ tư tưởng mới đó là tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc của tư tưởng chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.

– Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, đại đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mang tính chất sách lược, mà là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Bởi vì, Hồ Chí Minh xác định đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc.

– Từ khi Đảng ta ra đời, đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự là một bộ phận hữu cơ trong đường lối cách mạng của Đảng. Chỉ có đoàn kết thì mới tạo ra sức mạnh đưa cách mạng tới thành công. Như vậy, “đoàn kết là điểm mẹ” … “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu tốt”.

– Đoàn kết xuất phát từ những nhu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành. Cách mạng là cuộc chiến đấu khổng lồ, không tập hợp được lực lượng quần chúng, sẽ không thắng lợi. Kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân tìm mọi cách “chia để trị”.Vậy, ta phải đoàn kết muôn người như một, phải nhớ chữ “đồng” thì cách mạng mới thành công.

Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

– “Dân” theo quan niệm của Hồ Chí Minh là đồng bào, là anh em một nhà. “Dân” không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện. “Dân” là toàn dân, toàn dân tộc Việt Nam, bao gồm dân tộc đa số, thiểu số cùng sống trên một dải đất Việt Nam. Như vậy, “dân” có biên độ rộng, vừa được hiểu giai cấp, quan điểm quần chúng, Hồ Chí Minh đã chỉ ra giai cấp công, nông là lực lượng đông đảo nhất, bị áp bức nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất.

– Hồ Chí Minh nhận thức rõ ràng về vai trò của dân. Dân là gốc rễ, là nền tảng của nước. Dân là người chủ của nước, là chủ thể đại đoàn kết. Dân là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

– Từ nhận thức về dân, Hồ Chí Minh quan niệm đại đoàn kết là “ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân, ai thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ thì ta thật thà đoàn kết với họ”

Thứ ba, đại đoàn kết phải có tổ chức, có lãnh đạo.

– Đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược, có tổ chức, có lãnh đạo, được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học nhằm hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Trước hết, lực lượng toàn dân phải được tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất để vừa đồng về số lượng, nâng cao về chất lượng.

– Ngay sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh đã quan tâm tới vấn đề tổ chức phù hợp với giai cấp, tầng lớp, ngành nghề, lứa tuổi … phù hợp với từng bước phát triển của cách mạng.
Thứ tư, đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế.

– Khi nói đại đoàn kết dân tộc trong thời đại mới, theo lập trường vô sản, theo ngọn cờ của chủ nghĩa Mác-Lênin là đã bao hàm cả nội dung đoàn kết quốc tế. Tức là phải thống nhất lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế; chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

– Trên hành trình tìm đường cứu nước, đặc biệt từ khi được ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin soi rọi, Hồ Chí Minh đã ý thức rằng phải đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới.

– Thực hiện đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh quan tâm tới mọi lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới.

– Đoàn kết quốc tế không chỉ là sự tiếp nhận một chiều của nhân dân thế giới, mà còn phải góp phần tích cực đối với cách mạng thế giới.

– Đoàn kết quốc tế phải tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, cùng có lợi, tăng cường hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Ý nghĩa và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa giá trị thực tiễn sâu sắc, bằng chứng là cuộc kháng chiến giành thắng lợi trước hai đế quốc sừng sỏ trên thế giới để giành độc lập, dân tộc và thống nhất đất nước. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc không chỉ mang giá trị trong thời kỳ kháng chiến cứu quốc mà giá trị ấy vẫn còn mang tầm ảnh hưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng đổi mới đất nước và cho đến tận thời đại ngày nay. Bằng chứng là trong giai đoạn hiện nay Đảng ta đã vận dụng tư tưởng của Bác về đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới như: khơi dậy tinh thần và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, được thể hiện qua những việc làm của toàn Đảng và toàn dân cùng đồng lòng xây dựng đất nước như phát động quỹ vì người nghèo của Mặt trận tổ quốc VN, quỹ tấm lòng vàng, trái tim nhân ái,…. Phát huy được sự làm chủ của nhân dân như cho nhân dân tham gia đóng góp cùng chính quyền xây dựng quê hương như hiến đất làm đường, xây cầu,…. Đặc biệt, ở An Giang sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc đã được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ như mọi xã, phường trong tỉnh đều có xe cấp cứu từ thiện hay mái ấm ATV,…. Tinh thần sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc của Bác còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc và là nền tảng vững chắc cho mọi hành động của Đảng ta cho đến thời nay, đã thể hiện rõ rệt trong cuộc chiến phòng chống dịch bệnh Covid 19 hiện nay qua sự chung tay đoàn kết đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đẩy lùi chiến thắng dịch bệnh.

Tóm lại, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc và là nền tảng vững chắc đối với cách mạng Việt Nam. Tư tưởng này có giá trị xuyên suốt trong quá trình xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng dân chủ, văn minh. Đồng thời, là nền tảng, là kim chỉ nam để Đảng ta định hướng phát triển và xây dựng đất nước XHCN mà xa hơn là CNCS trong tương lai./.


Bài viết: Học tư duy “cũ” của Hồ Chí Minh

Tác giả:Nguyễn Thị Bích Hạnh

Ban TTCT-TT, CĐCS trường Cao đẳng nghề An Giang

Trong thời đại ngày nay việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh liệu có “cũ”, có “lỗi thời”, “không phù hợp”,…. ?

Năm 1946, khi nêu lên khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, một số cán bộ đã góp ý với Người là nghe “nó cũ quá”. Vậy tư duy của Bác với giai đoạn hiện nay có “cũ”?

“Không phải cái gì cũ cũng bỏ, cái cũ mà tốt thì cần phải học hỏi, phát triển thêm” trong trang đầu tiên cuốn “Đời sống mới”, xuất bản lần đầu 1947 Bác viết “Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ là xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: đơn cử cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải làm bớt đi “Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm. Thí dụ, ta phải tương thân, tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay thì ta phải làm. Thí dụ, ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp”. Năm 1958, khi đồng chí Giang Đức Tuệ, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình đến gặp Bác tại Văn phòng Chủ tịch ngày 20 tháng 10, Bác dặn: Cách mạng chỉ xóa bỏ cái xấu, cái dở và giữ lại cái tốt, cái hay”.

Bác nói “Cách mạng là tiêu diệt những cái xấu, xây dựng những cái tốt”. Bác thực sự đã cho ta tấm gương sáng về lời nói và cả về hành động cách mạng.

Bác đã ngiên cứu, đối chiếu, gạn lọc, xóa bỏ tất cả những cái xấu ngay trong lòng xã hội mới hiện đại, văn minh nhất đương thời, đồng thời đã phát hiện và giữ lại tất cả những cái hay, tốt, đẹp của lịch sử phát triển các dân tộc trên thế giới, cổ kim, đông tây. Người đã thấy được cái hay, cái tốt trong Phật giáo, Thiên chúa giáo, trong Khổng học để vận dụng vào cuộc cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng những điều hay, điều tốt của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Bác cũng thấy được trong từng con người, từng cộng đồng người, tuy “cũ”, tuy “xấu”, nhưng vẫn có cái “tốt” để phục vụ cách mạng, mà cái tốt trên hết “là lòng yêu Tổ quốc, yêu nước, thương nòi”. Cho nên , đã có những người làm quan to cho Pháp, cho triều đình Huế, đã học và kiếm được nhiều tiền trên đất nước “tư bản”, những nhà ‘tư sản”, những “địa chủ”, những công nhân sống lâu, sống lâu với kẻ địch, nhưng họ vẫn thấy được cái điều “cách mạng” ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tin và đi theo “Cụ Hồ”.

Người đã đến viếng và thắp hương ở đền Bà Triệu tại Thanh Hóa, thích các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh, Việt Nam, Pháp, Ý. Khi nói, khi viết đều dùng lời lẽ, chữ nghĩa giản dị, khi cần thiết cũng đã nêu lên những ý hay của Tổng thống Hoa Kỳ, dí dỏm của người Anh, sâu sắc của Không Tử. Tất cả những điều ấy và biết bao điều khác nữa đâu có thể nói Bác là “cũ”!.

Bác đã từng nói “Một đoàn thể mạnh thì cái tốt ngày càng phát triển, cái dở ngày càng bớt đi. Một điều tốt phải đưa ra cho tất cả mọi người cùng học, một điều xấu phải đưa ra tất cả mọi người cùng biết mà tránh”. Người cũng đã dạy rằng xóa điều xấu, làm điều tốt không thể gấp gáp được. Vì nếu có nấu cơm cũng phải 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ cũng phải vài ba giờ mới xong”.

Đất nước ta đang đổi mới, mở cửa hội nhập đón làn giớ mới, cụm từ “Cách mạng, cái xấu, cái tốt”, nhất thiết cũng cần cho chúng ta suy nghĩ. Mở cửa đón gió bốn phương, không phải “nhập” cả những điều “mới”, “hiện đại” nhưng lại xấu xa, đồi bại, có những cái không tốt của “khách” mà chính họ cũng bỏ, tởm lợm, càng không phải một cuộc “loại bỏ” những cái “cũ” đẹp dần mất đi, cái mới chưa tốt lại đang được o bế, đang có “môi trường” sinh sôi, nảy nở. Điều này làm cho ai đó, rất cực đoan, muốn trở lại hai đầu “cũ, cũ hết, mới, mới hết; cũ xấu hết, mới tốt hết”. Đó là một thái độ không “cách mạng”, như lời Bác dạy.

Trong giai đoạn hiện nay, để tránh bị”tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “thoái hóa, biến chất”, thì những những tư duy “cũ” của Bác vẫn còn giá trị trường tồnđể học hỏi, vẫn cần phải học những cái “cũ” này để “tăng sức đề kháng”, tránh bị “nhiễm độc”từ làn gió đổi mới. Hơn nữa, trước đại dịch toàn cầu, cả nước cần chung tay, học tập làm theo tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Bác, toàn dân một lòng cùng vượt qua giai đoạn khó khăn này, đẩy lùi “giặc COVID-19” như lịch sử hơn 4000 năm chống quân xâm lược của dân tộc ta./.